Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

So sánh hệ thống logistics Việt Nam và Singapore: Năng lực và hiệu quả.



So sánh hệ thống logistics Việt Nam và Singapore: Năng lực và hiệu quả.

CangCatLaiCuối năm 2007, Ngân hàng thế giới công bố bảng báo cáo về hiệu quả hoạt động logistics của các quốc gia trên thế giới. Theo bảng báo cáo này, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 53, thuộc loại trung bình của thế giới. Trong khi đó, Singapore được xếp ở vị trí thứ 1, và trở thành một trong những trung tâm logistics toàn cầu với chất lượng dịch vụ tốt nhất thế giới.
 Đâu là những thách thức trong hệ thống logistics Việt Nam? Đâu là những bài học thành công trong hệ thống logistics Singapore?

Bài viết sẽ so sánh hệ thống logistics Việt Nam với một trong những hệ thống logistics tốt nhất thế giới, hệ thống logistics Singapore. Trên cơ sở đó xác định những lĩnh vực logistics mà Việt Nam cần phải tập trung phát triểnnhằm nâng cao tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống logistics trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
So sánh hệ thống logistics Việt Nam và Singapore Trong bảng xếp hạng thế giới, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 53 về hiệu quả hoạt động logistics. So với vị trí thứ 1 của Singapore, thì Việt Nam vẫn còn ở tương đối xa. Còn nếu so sánh riêng trong khu vực ASEAN (không tínhđến Brunei), thì Việt Nam ở vị trí thứ 5 sau cả Malaysia, Thailand và Indonesia (xem bảng 1). Ở vị trí này, hệ thống logistics của Việt Nam được đánh giá trung bình so với mức tốt nhất của Singapore.
Đi vào cụ thể các tiêu chí xếp hạng của Ngân hàng thế giới về hiệu quả hoạt động logistics, có thể nhận xét như sau:
Tính hiệu quả của các cơ quan chức năng trong việc phối hợp thực hiện các thủ tục hải quan. Hiện nay, thủ tục hải quan tại Việt Nam vẫn được thực hiện theo hình thức thủ công và mang nặng tính giấy tờ. Chính điều này dẫn đến thời gian thực hiện hoạt động hải quan kéo dài ảnh hưởng đến việc lưu thông hàng hóa quốc tế.Lấy một ví dụ cụ thể như sau: một doanh nghiệp Đồng Nai xuất hàng vào kho CFS Bình Dương để gom hàng đi bằng đường biển, tuy nhiên khách hàng yêu cầu phải đi bằng đường hàng không. Doanh nghiệp này muốn thực hiện việc vận chuyển lô hàng từ kho CFS Bình Dương đến sân bay Tân Sơn Nhất tại thành phố Hồ Chí Minh và xuất hàng bằng đường hàng không thì phải tốn hơn
Bảng 1: Xếp hạng về chỉ số hiệu quả hoạt động logistics
của các nước ASEAN

Quốc gia Thế giới Khu vực Số điểm
Singapore
1
1
4.19
Malaysia
21
2
3.48
Thailand
31
3
3.31
Indonesia
43
4
3.01
Việt nam
53
5
2.69
Philippines
65
6
2.69
Cambodia
81
7
2.5
Lao PDR
117
8
2.25
Myanmar
147
9
1.86
Timor leste
149
10
1.71
Nguồn: Connecting to compete - Trade Logistics in the Global Economy,
Logistics Performance Index Report, The World Bank, 2007.
và xuất hàng bằng đường hàng không thì phải tốn hơn 1 tuần làm việc với hải quan Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Lý do là hải quan ở từng địa phương chỉ chịu trách nhiệm từng phần công việc của mình và không có sự phối hợp với nhau. Nếu lô hàng này ở Singapore, thì chỉ cần khoảng 0.5 ngày để hoàn thành xong thủ tục hải quan. Vì sao hải quan Singapore có thể làm nhanh đến thế? Đơn giản là vì họ phối hợp với nhau rất nhịp nhàng dựa trên công nghệ thông tin. Khi doanh nghiệp Singapore đăng ký thủ tục xuất hàng thì chi tiết lô hàng đó được đưa vào hệ thống chung mà có thể được "nhìn thấy"bởi các cơ quan chức năng. Chính điều này mà dù hải quan ở sân bay, cảng biển không trực tiếp làm với doanh nghiệp nhưng vẫn có thể biết được tình trạng của lô hàng và hoàn cảnh của doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, sự phức tạp trong hệ thống pháp luật đã khuyến khích sự thiếu minh bạch trong hoạt động hải quan ở Việt Nam. Chính vì thế chi phí "ngầm" trong hoạt động hải quan rất cao và đôi khi làm nản lòng các nhà đầu tư và các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Chất lượng cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động logistics và vận chuyển. Có rất nhiều báo cáo và nghiên cứu về hệ thống cơ sở hạ tầng và thông tin phục vụ cho hoạt động logistics ở Việt Nam. Các báo cáo này đều có chung một kết luận là hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn lạc hậu và cần phải đầu tư nhiều để có thể phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế nói chung và hoạt động logistics nói chung. Chẳng hạn như báo cáo của tập đoàn NOL cho rằng, thách thức lớn cho chính phủ Việt Nam chính là cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế trong tương lai. Hay như báo cáo của World Bank về chiến lược phát triển hệ thống vận tải Việt Nam, để có thể đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trong tương lai, cần có sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư cơ sở hạ tầng mà hiện nay được sở hữu, đầu tư và hoạt động từ phía khu vực công. Đối với hạ tầng công nghệ thông tin, Việt Nam vẫn chưa đạt được những tiến bộ trong việc áp dụng công nghệ trong hoạt động logistics, chẳng hạn như sử dụng hệ thống truyền tin EDI4. Trong khi đó, Singapore đã ứng dụng hệ thống này vào đầu thập kỷ 90. Hơn thế nữa, Singapore đã xây dựng thành công cổng công nghệ thông tin gọi là Portnet, nơi mà thông tin được quản lý và chia sẻ bởi các hãng tàu, các hãng vận chuyển đường bộ, các nhà giao nhận và cả các cơ quan chính phủ. Đây cũng chính là một trong những kết quả đã đưa Singapore trở thành một trong những quốc gia có hệ thống logistics tốt nhất thế giới hiện nay.
Bảng 2: So sánh cơ sở hạ tầng của Việt Nam và một số nước
trong khu vực ASEAN
Việc đo lường dựa trên thang điểm năm với năm là cao nhất
Cơ sở hạ tầng Singapore Thailand Việtnam Myanmar Laos Cambodia
Cảng hàng không
4.9
3.1
1.9
1.6
1.5
1.6
Cảng biển
4.9
2.5
2.0
1.5

1.5
Hệ thống vẩn chuyển
4.6
1.6
1.9
1.6
1.5
1.8
Năng lượng
4.4
2.7
1.9
1.6
1.5
1.8
Hệ thống thông tin
4.7
3.0
2.2
1.4
1.5
1.4
Nguồn nhân lực
4.1
2.7
2.7
2.3
1.7
1.4
Công nghệ
3.8
2.62
1.9
1.8
2.5
1.3
Hieu quả quản lý
4.5
2.3
1.4
1.6
1.3
1.1
Minh bạch trong quản lý
4.3
2.3
1.5
1.6
1.4
1.1
Nguồn: The Strait Times (1997a)
Sự dễ dàng cho việc lưu thông hàng hóa quốc tế. Sự dễ dàng được kết hợp bởi hệ thống cơ sở hạ tầng tốt phục vụ cho việc lưu thông hàng hóa không gián đoạn,thủ tục hải quan đơn giản nhằm giảm bớt thời gian "chờ" của các lô hàng quốc tế và khả năng kết nối với thị trường thế giới. Hai vấn đề cơ sở hạ tầng và thủ tục hải quan đã được trình bày ở bên trên, nên phần này sẽ so sánh hệ thống kết nối với thị trường thế giới của Việt Nam và Singapore. Nếu cảng biển Singapore được xem là trung tâm chuyển tải của thế giới với hơn 200 hãng vận chuyển toàn cầu nối liền hơn 600 cảng biển của thế giới của 120 quốc gia, thì cảng biển của Việt Nam vẫn là cảng quốc gia với hoạt động chủ yếu là các tàu nhỏ hoạt động trung chuyển hàng giữa Việt Nam - Singapore hoặc ViệtNam - Kaohsiung / Hong Kong / Trung Quốc, để từ đó đưa hàng đến các nước Bắc Mỹ và Châu Âu. Vì thế, so với Singapore, hàng hóa xuất phát từ Việt Nam sẽ mất thêm khoảng 3-4 ngày mới đến được khách hàng cuối cùng.
Năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ logistics địa phương. Năng lực này được đo lường bằng chất lượng dịch vụ mà các nhà cung cấp địa phương thực hiện cho khách hàng của mình thông qua khai thuê hải quan và vận chuyển đường bộ. Hơn thế nữa, năng lực cũng được đo lường bằng sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng trong các vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan. Ở khía cạnh này, các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam không thể cạnh tranh được với các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở Singapore. Điều này là do:
Hệ thống thủ tục hải quan ở Việt Nam khá phức tạp và chồng chéo khiến cho sự minh bạch trong các thủ tục này rất kém. Kết quả là chất lượng dịch vụ cung cấp sẽ thấp cùng với các chi phí "ngầm" cao. Cụ thể như cùng một mặt hàng có mã hải quan như nhau thì có thể có những mức thuế suất áp đặt khác nhau tùy vào từng địa phương.
Năng lực của các nhà cung cấp logistics ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Hầu như không có một nhà cung cấp nào có khả năng cung cấp dịch vụ "trọn gói" trên toàn lãnh thổ Việt Nam với chi phí cạnh tranh. Ví dụ, để vận chuyển một lô hàng từ Đà Nẵng vào Thành phố Hồ Chí Minh, chủ hàng phải liên hệ với một nhà cung cấp dịchvụ hải quan tại Đà Nẵng + một nhà vận chuyển đường bộ từ Đà Nẵng vào Thành phốHồ Chí Minh + một nhà cung cấp dịch vụ hải quan tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên ở Singaporethì chủ hàng chỉ cần liên hệ với một nhà cung cấp dịch vụ logistics duy nhất để thực hiện việc lưu thông hàng hóa từ khu công nghiệp ra đến cảng biển. Và hiện nay Singapore là nơi tập trung của các công ty logistics hàng đầu thế giới với 17 trên 25 công ty cung cấp dịch vụ logistics thông qua hợp đồng (third-partylogistics) đặt trụ sở hoặc văn phòng chính.
Năng lực cung cấp dịch vụ vận chuyển xuyên suốt Việt Nam của các nhà cung cấp dịch vụ vẫn còn hạn chế. Điều này là do hệ thống xe tải của Việt Nam rất lạ chậu, với một lượng lớn xe vận chuyển có tuổi đời hơn 10. Hơn thế nữa, hệ thống này rất phân tán và mang tính cục bộ địa phương.
Bảng 3: So sánh một số chỉ tiêu về mức độ nối liền với các thị trường thế giới qua cảng biển của Việt Nam và Singapore
Mức độ nối liền toàn cầu Singapore Việt Nam
Số lựong hãng tàu
→200
34
Số lượng cảng nối liền
600
47
Số lượng quốc gia nối liền
120
12
Tổng số lượng tàu cập cảng
30318
3068
Nguồn: Maritime and Port Authority of Singapore, 2006
Khả năng truy xuất được tình trạng đơn hàng. Ngày nay, trong hệ thống kinh tế toàn cầu, việc sản xuất tại một nơi và tiêu thụ tại một nơi khác là điều hết sức bình thường. Điều quan trọng để cạnh tranh hiệu quả là quản lý được dòng lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Một trong những khả năng giúp cho các công ty toàn cầu nắm được dòng lưu chuyển hàng hóa chính là việc truy xuất được tình trạng đơn hàng. Theo các công ty này, việc biết sớm tình trạng đơn hàng (đang sản xuất, đang tồn kho, đang vận chuyển, đang làm thủ tục hải quan...) sẽ giúp họ có những quyết định tốt hơn trong điều kiện thị trường luôn thay đổi. Khảo sát một vài công ty cung cấp dịch vụ giao nhận tại Việt Nam cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp không có năng lực để cung cấp dịch vụ "truy xuất tình trạng đơn hàng", chỉ dựa hoàn toàn vào năng lực của một công ty đối tác nước ngoài để cung cấp dịch vụ này. Điều này hoàn toàn trái ngược với Singapore, nơi mà hầu hết các công ty cung cấp dịch vụ logistics đều có thể cung cấp dịchvụ này thông qua trang web. Chỉ cần khách hàng nhập số vận đơn / mã đơn hàng vào hệ thống này thông qua trang web thì khách hàng có thể biết được tình trạng đơnhàng đó.
Chi phí logistics. Theo một nghiên cứu, việc giảm được 1% chi phí logistics có thể dẫn đến việc tiết kiệm nguồn lực tương đương 0.15% - 0.2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo các chuyên gia, chi phí logistics tại Việt Nam vào khoảng 15%-20% GDP, cao gần gấp đôi so với Singapore chỉ vào khoảng 8%-9% GDP. Điều này cho thấy thực hiện hoạt động logistics tạiViệt Nam kém hiệu quả và tính cạnh tranh thấp hơn so với Singapore,hệ thống logistics Việt Nam vẫn còn kém phát triển.
Tính đúng hạn trong giao hàng đến khách hàng cuối cùng. Việc giao hàng đúng hạn luôn luôn là yêu cầu từ phía người mua hàng, đặc biệt là các hàng Mỹ và Châu Âu. Đối với họ, việc giao hàng đúng hạn sẽ giúp họ đạt được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ trong việc "đưa sản phẩm nhanh ra thị trường". Ngoại trừ một sốyếu tố khách quan, văn hóa "giao hàng đúng hạn" của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Đó là vì tập quán thương mại chủ yếu là bán giá FOB, mà theo đó khi doanh nghiệp Việt Nam hoàn thành xong việc giao hàng cho nhà chuyên chở thì họ không quan tâm đến lô hàng đó nữa; đối với họ việc giao hàng đúng hạn là giao cho nhà chuyên chở thay vì giao cho khách hàng cuối cùng. Hơn thế nữa, do việc vận chuyển bằng đường biển ra thế giới tại Việt Nam chủ yếu là dịch vụ "tàu trung chuyển" (feeder), nên cũng ảnh hưởng nhiều đến độ tin cậy trong việc giao hàngcho khách hàng cuối cùng. Tuy nhiên ở Singapore, các công ty rất xem trọng đến việc giao hàng cho khách hàng cuối cùng. Họ cụ thể hóa điều này bằng các chỉ tiêu hoạt động (KPIs - Key Performance Indicators), chẳng hạn như việc giao hàng đúng hạn phải đạt 98%, tỷ lệ phương tiện vận chuyển đến đúng hạn là95%.
Việc so sánh hệ thống logistics Việt Nam với hệ thống logistics tốt nhất thế giới - Singapore - cho thấy một số lĩnh vực mà Việt Nam có thể đầu tư nếu muốn cải thiện vị trí của mình trên bảng xếp hạng của thế giới cũng như phát triển ngành logistics:
Đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin theo mô hình hệ thống Portnet của Singapore, nơi mà không chỉ các hãng tàu, các nhà cung cấp dịch vụ logistics mà cả các cơ quan chức năng có thể sử dụng và chia sẻ nguồn thông tin.
Đơn giản hóa và vi tính hóa các thủ tục hải quan nhằm tăng tốc độ lưu chuyển các lô hàng quốc tế. Các cơ quan chức năng và hải quan cần phối hợp với nhau dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng bằng cách cho phép khu vực tư nhân được tham gia cùngkhu vực công trong các dự án về đường bộ, cảng biển, cảng hàng không và hệ thống thông tin.

Nguồn: vnexim.com.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét